Chiến sự Iran: Bài học Iraq 1991 vẫn còn ám ảnh Mỹ

Nguồn hình ảnh, Getty Images
- Tác giả, Jeremy Bowen
- Vai trò, Biên tập viên Quốc tế
- Thời gian đọc: 10 phút
Tôi biết điều gì có thể xảy ra khi một tổng thống Mỹ kêu gọi nổi dậy rồi lại không can thiệp khi cuộc bạo động bắt đầu. Bởi vì tôi đã từng chứng kiến điều đó trước đây.
Năm 1991, chính xác là ngày 15/2, Tổng thống George Bush cha đã có một bài phát biểu mà có lẽ ông đã hối tiếc cho đến cuối đời.
Bài phát biểu diễn ra tại nhà máy ở Massachusetts, nơi chế tạo tên lửa đánh chặn Patriot, loại vũ khí tiên tiến nhất trong cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất.
Tên lửa Patriot, có khả năng bắn hạ tên lửa đang bay tới, vẫn đóng vai trò quan trọng ở Ukraine và trong cuộc chiến với Iran.
Khi ông Bush đến nhà máy Patriot thì Chiến dịch Bão Sa mạc, chiến dịch quân sự quy mô lớn nhằm đánh đuổi quân đội Iraq khỏi Kuwait đang diễn ra.
Lực lượng không quân kết hợp của Mỹ, Anh và các đồng minh đang oanh tạc dữ dội vào quân đội Iraq cũng như các thành phố của Iraq.
Hàng chục ngàn binh sĩ của lực lượng đồng minh đã tập trung dọc biên giới Iraq và Kuwait để chuẩn bị cho cuộc chiến trên bộ, vốn sẽ bắt đầu vào chín ngày sau đó.
Tôi đang ở Baghdad, bận rộn đưa tin chiến sự.
Vài ngày trước đó, người Mỹ đã giết chết hơn 400 thường dân trong một cuộc không kích vào một hầm trú ẩn ở vùng ngoại ô Amiriyah.
Người Mỹ và người Anh tuyên bố sai sự thật rằng đó là một trung tâm chỉ huy, nhưng tôi đã tận mắt chứng kiến những thi thể, hầu hết là trẻ em, phụ nữ và người già, và thấy hầm trú ẩn vẫn còn âm ỉ cháy, vì vậy tôi biết điều đó không đúng.
Hồi đó, tôi không để ý đến bài phát biểu của ông Bush cha.
Nhưng 35 năm sau, tôi vẫn nghĩ về bài phát biểu này mỗi khi nghe ông Donald Trump và ông Benjamin Netanyahu nói với người dân Iran rằng họ đang được trao cơ hội ngàn năm có một để lật đổ nền Cộng hòa Hồi giáo, mà không hứa hẹn hỗ trợ quân sự trực tiếp.
Ông Bush đã đến nhà máy Patriot để ca ngợi những công nhân đã chế tạo ra thứ vũ khí được coi là thần kỳ.
Chỉ trong vài đoạn ngắn, ông nói rằng nhà lãnh đạo Iraq Saddam Hussein nên tuân thủ các nghị quyết của Liên Hợp Quốc về việc rút quân khỏi Kuwait.
Không giống như cuộc chiến hiện tại với Iran, Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất có sự cho phép hợp pháp của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.
Sau đó, ông Bush đã nói những lời dẫn đến hậu quả vô cùng to lớn. "Còn một cách khác để chấm dứt đổ máu... đó là quân đội Iraq và người dân Iraq tự mình hành động và buộc Saddam Hussein, nhà độc tài, phải từ chức..."
Các công nhân hò reo và vỗ tay, và tổng thống quay lại kêu gọi dân Mỹ ủng hộ tham gia cuộc chiến lớn đầu tiên kể từ thảm họa Việt Nam.

Nguồn hình ảnh, Stefan Zalkin/EPA-EFE
Nhưng một số người Iraq xem trọng phát ngôn của ông.
Sau khi quân đội Iraq bị đánh đuổi khỏi Kuwait, một thỏa thuận ngừng bắn đã giúp ông Hussein tiếp tục nắm quyền.
Người Shia Iraq ở miền nam và người Kurd ở miền bắc đất nước đã bắt đầu một cuộc nổi dậy vũ trang chống lại chế độ.
Người Mỹ, người Anh và các quốc gia khác trong liên minh đã theo dõi những gì đang xảy ra mà không can thiệp.
Chế độ Iraq bị thiệt hại nặng nề từ chiến tranh, nhưng họ vẫn được phép giữ lại trực thăng và lực lượng này đã tiến hành một cuộc phản công khiến hàng ngàn người Kurd và người Hồi giáo Shia Iraq thiệt mạng.
Họ tin rằng cuộc nổi dậy của mình được tổng thống Mỹ ủng hộ. Nhưng họ đã mắc sai lầm khi cho rằng ông Bush sẽ can thiệp để đảm bảo cuộc nổi dậy thành công.
Lúc đó tôi đang ở trên những ngọn núi phủ đầy tuyết lạnh giá ở phía bắc Kurdistan. Hàng chục ngàn người Kurd đã chạy trốn đến đó - với những câu chuyện kinh hoàng về việc bị quân của Hussein giết hại - và mỗi sáng tôi đều thấy những người cha mang theo thi thể con cái của mình, những bọc nhỏ được quấn trong chăn, những đứa trẻ đã chết trên sườn núi trong đêm vì giá rét hoặc bệnh kiết lỵ.
Rốt cuộc thì, người Mỹ, người Anh, người Pháp và những nước khác xấu hổ, buộc phải tiến hành một chiến dịch nhân đạo quy mô lớn để giải cứu người Kurd. Ở phía nam, người Shia không may mắn như vậy.
Hậu quả của cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ nhất kéo dài nhiều năm; một cam kết về việc thực hiện các cuộc tuần tra trên không để thực thi vùng cấm bay, các căn cứ thường trực của Mỹ.
Và ở Ả Rập Xê Út, một Osama Bin Laden trẻ tuổi - phẫn nộ vì quân đội nước ngoài, trong mắt ông ta, đã xâm phạm vùng đất của những thánh địa Hồi giáo linh thiêng nhất - đã tập hợp lực lượng để hình thành tổ chức mà sau này là Al Qaeda.
Mỗi cuộc chiến Vùng Vịnh đều gieo mầm cho cuộc chiến tiếp theo.
Năm 2003, Tổng thống Bush con đã lật đổ Hussein, hoàn thành những gì ông tin là công việc dang dở của cha mình.
Iran là bên thắng lớn trong cuộc chiến đó. Người Mỹ, một cách dễ dàng, đã loại bỏ kẻ thù không đội trời chung của họ, Saddam Hussein.
Cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ ba này nhằm mục đích đập tan sự trỗi dậy của Cộng hòa Hồi giáo Iran thành cường quốc khu vực, vốn đã tăng tốc sau năm 2003.
Việc ném bom được thiết kế để đập tan tham vọng quân sự và hạt nhân của Iran, điều mà Israel đặc biệt coi là mối đe dọa đến sự tồn vong của mình.
Quyết định của ông Trump về việc tiến hành chiến tranh, lần đầu tiên với tư cách là một liên minh với Israel, không được lòng người dân Mỹ, theo các cuộc thăm dò mới nhất. Đây cũng là điều đáng báo động đối với các đồng minh của Mỹ, tất nhiên là ngoại trừ người Israel.
Sẽ ra sao nếu những người hoài nghi đã sai? Có lẽ giới phân tích và các nhà bình luận đã để sự ác cảm dành cho Trump làm mờ đi khả năng phán đoán của mình.
Có lẽ việc ông xúc phạm các đồng minh - những quốc gia có binh sĩ từng sát cánh chiến đấu và hy sinh cùng người Mỹ trong các cuộc chiến khác tại Trung Đông - hay việc đôi khi ông nói sai sự thật, cũng không quá quan trọng.
Ông từng tuyên bố rằng Iran có thể đã bắn một quả tên lửa Tomahawk trong vụ tấn công vào một ngôi trường mà phía Iran cho biết đã khiến hơn 165 người thiệt mạng, trong đó có nhiều nữ sinh. Thực tế là Iran không hề sở hữu tên lửa Tomahawk.
Tất cả những điều đó, theo lập luận của Trump và những người ủng hộ ông, đều chỉ là tin giả.
Người ta nói rằng giá xăng tăng cao trong một thời gian sẽ đáng để đánh đổi, nếu cuộc chiến này ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo tầm xa, những thứ sẽ đe dọa không chỉ các quốc gia Vùng Vịnh và Israel mà còn cả châu Âu hay thậm chí cả Mỹ.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Pete Hegseth - người được đổi chức thành Bộ trưởng Chiến tranh - đã chỉ trích mạnh mẽ sự e ngại của châu Âu về việc sử dụng vũ lực mà không có sự cho phép của Liên Hợp Quốc hoặc lý do tự vệ thuyết phục.
Hegseth chỉ trích "rất nhiều đồng minh lâu năm của chúng ta đang lo lắng và lưỡng lự về việc sử dụng vũ lực".
Nhưng rõ ràng là việc kết thúc chiến tranh sẽ không đơn giản, và những hệ lụy nếu lạc quan nhất thì cũng là chưa rõ ràng, còn tồi tệ nhất thì sẽ cực kỳ nguy hiểm.
Israel có chương trình nghị sự riêng của mình. Ông Netanyahu rất rõ ràng về những gì mình muốn. Ông tin rằng mình có thể đạt được ước mơ cả đời - tiêu diệt Cộng hòa Hồi giáo Iran.
Trong bài phát biểu vào ngày thứ hai của cuộc chiến, ông nói rằng với sự "hỗ trợ" của Hoa Kỳ, Israel đã có thể làm "điều tôi hằng mong ước trong bốn mươi năm qua: đập tan chế độ khủng bố. Đây là điều tôi đã hứa và đây là điều chúng tôi sẽ làm."
Giống như Trump, ông đã kêu gọi một cuộc nổi dậy của quần chúng ở Iran. Israel dường như không lo ngại về việc Iran rơi vào tình trạng hỗn loạn bạo lực. Thậm chí đó có thể là một kết quả tốt cho họ.
Mỹ, Israel và những quốc gia ủng hộ họ tin rằng việc lật đổ chế độ Iran sẽ làm cho thế giới an toàn hơn.
Họ có thể đúng. Đó là một chế độ tàn bạo, độc ác, đã giết hại hàng ngàn người dân Iran trên đường phố vào tháng Một vì họ xuống đường biểu tình chống lại sự đàn áp, tham nhũng và sụp đổ kinh tế. Chế độ này đã làm giàu uranium đến mức có thể chế tạo bom hạt nhân.
Nhưng họ đã sai nếu hậu quả của cuộc chiến gây ra một thảm họa ở quy mô như cuộc xâm lược Iraq năm 2003.
Việc lật đổ Hussein, nhà độc tài của Iraq, mà không có một kế hoạch khả thi để thay thế chế độ của ông ta đã dẫn đến hàng trăm ngàn người chết trong nhiều năm giết chóc giữa các phe phái và nội chiến, và một khoảng trống quyền lực đã tạo điều kiện cho các phần tử cực đoan thánh chiến hình thành nên Nhà nước Hồi giáo (IS), mà những người kế nhiệm họ sẽ tìm cách lợi dụng cuộc khủng hoảng mới này.
Netanyahu đã nhiều lần cân nhắc chiến tranh với Iran nhưng luôn nhận ra rằng Israel sẽ cần sự giúp đỡ của một tổng thống Mỹ sẵn sàng tham chiến.
Cuối cùng, ông đã có một người - Trump.
Các tổng thống trước đây - kể cả Bill Clinton, người đầu tiên ông Netanyahu làm việc cùng khi còn là thủ tướng ba mươi năm trước - đã không làm điều đó.
Họ bằng lòng với việc kiềm chế và răn đe Iran, cân nhắc khả năng chiến tranh nếu nước này thực sự cố gắng sở hữu vũ khí hạt nhân.
Và họ đã không hành động ở mức độ lớn vì những gì đang xảy ra hiện nay: một lời đáp trả từ Iran với mục tiêu thách thức quyền lực của Mỹ, làm lây lan ngọn lửa chiến tranh, gây ra những thiệt hại kinh tế khổng lồ và phá vỡ các liên minh vốn được xây dựng tỉ mỉ giữa Mỹ và các quốc gia Vùng Vịnh, những nước đã nỗ lực ngăn chặn cuộc chiến này xảy ra.
Giờ đây, Iran đã biến những quốc gia này thành mục tiêu. Với Trung Quốc đang chờ đợi cơ hội, các nước này có thể xem xét lại giá trị của một liên minh với Mỹ và việc xích lại gần hơn với Israel, đặc biệt nếu ông Trump tuyên bố chiến thắng rồi để Ả Rập Xê Út và các nước khác giải quyết mớ hỗn độn.
Ông Trump, người từng hứa với dân Mỹ rằng sẽ không còn những cuộc chiến tranh bất tận, có thể sẽ thấy mình bị sa lầy trong việc duy trì quân đội tại Trung Đông - những lực lượng mà ông thà để họ rảnh tay đối phó với Trung Quốc hơn.
Đối với người Israel, mọi thứ diễn ra trực diện hơn. Họ coi đây là cơ hội tốt nhất từ trước đến nay để tái lập trật tự tại Trung Đông và củng cố vị thế là cường quốc quân sự bá chủ không thể bị thách thức.
Mục tiêu của họ là tiêu diệt Hezbollah, đồng minh của Iran tại Lebanon, một lần và mãi mãi, điều mà họ đã cố gắng nhưng thất bại kể từ thập niên 1990.
Trong khi thế giới đang dồn sự chú ý vào Iran, Israel cũng đang thực hiện thêm nhiều bước đi hướng tới việc thôn tính thực tế vùng Bờ Tây đang bị chiếm đóng.
Ông Trump có lẽ sẽ nhận ra rằng bắt đầu một cuộc chiến thì dễ hơn nhiều so với việc kết thúc. Thật khó để biết khi nào nên dừng lại nếu không biết chính xác mình đang đi đâu.
Điều đó lại càng khó khăn hơn khi Mỹ, quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, dường như đã lâm chiến mà không có một chiến lược chính trị nhất quán, dưới quyền một vị tổng thống mà mọi bằng chứng cho thấy là người tùy cơ ứng biến.















