You’re viewing a text-only version of this website that uses less data. View the main version of the website including all images and videos.
Đại hội 14: Đảng chọn tổng bí thư như thế nào?
Cứ mỗi 5 năm một lần, đến kỳ đại hội, công chúng liên tục đồn đoán nhân vật sẽ là lãnh đạo tiếp theo của đảng cầm quyền, cũng chính là nhân vật lãnh đạo nhà nước và xã hội đã được hiến định.
Nhân vật đó sẽ xuất hiện vào ngày cuối cùng của đại hội, lần này là vào chiều 23/1, phát biểu bế mạc và chủ trì họp báo quốc tế, bố cáo với thế giới rằng Việt Nam đã có một lãnh đạo mới.
Đảng coi quy hoạch và lựa chọn dàn nhân sự cấp cao là bí mật nhà nước ở danh mục "tuyệt mật".
Nhưng công chúng, trong rất nhiều kỳ trước đại hội, vẫn có cách để biết được ai sẽ giữ chức vụ quan trọng này trong thời gian tới.
Chẳng hạn, các thông tin hiện tại, từ các hãng tin quốc tế cho đến dư luận trong nước, hay nguồn tin của BBC News Tiếng Việt, đều hướng đến một người: ông Tô Lâm.
Một khi được đề cử, chắc chắn ông sẽ được bầu vào chức vụ lãnh đạo cao nhất của Đảng.
Lịch sử của tổ chức này cho thấy chưa một trường hợp ứng viên tổng bí thư nào được giới thiệu là không trúng cử.
Điều đó là bởi Đảng chỉ chọn duy nhất một ứng viên cho chức vụ này và số phiếu "tập trung cao", hoặc "gần như tuyệt đối".
Nhưng để đạt được sự đồng thuận và số phiếu "gần như tuyệt đối", hoặc 100%, một đấu trường cạnh tranh ngầm diễn ra khá khốc liệt trước đó.
Vậy Đảng lựa chọn lãnh đạo của mình như thế nào?
Ai đủ tiêu chuẩn làm tổng bí thư?
Đảng sẽ thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ của mình, với các chức danh như ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, cùng các chức danh do Bộ Chính trị và Ban Bí thư quản lý.
Ứng viên tổng bí thư phải là một trong số các ủy viên Ban Chấp hành, và cao hơn, phải là một người đã từng giữ trọn một nhiệm kỳ ủy viên Bộ Chính trị.
Trong lịch sử của Đảng Cộng sản, ứng viên tổng bí thư phải là một trong những người giữ chức vụ được gọi là "lãnh đạo chủ chốt", bao gồm tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và thường trực Ban Bí thư.
Như vậy, Bộ Ngũ chính là một nguồn cung cấp ứng viên cho chức vụ lãnh đạo cao nhất của Đảng.
Một nguồn khác, ứng viên tổng bí thư phải đáp ứng yêu cầu: giữ trọn ít nhất một nhiệm kỳ ủy viên Bộ Chính trị trở lên.
Bộ Chính trị của Đảng trong những nhiệm kỳ gần đây xoay quanh các con số 17-19 người. Ngoài 5 vị trí lãnh đạo chủ chốt, các ủy viên Bộ Chính trị là những người đứng đầu các ban Đảng và bí thư thành ủy hai thành phố lớn là Hà Nội và TP HCM.
Tuy nhiên, trên thực tế, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có một ủy viên Bộ Chính trị nào ngoài 5 chức danh chủ chốt được chọn làm ứng viên tổng bí thư.
Đã có trường hợp ủy viên Bộ Chính trị giữ chức bộ trưởng khóa trước trở thành chủ tịch nước khóa sau, hoặc trưởng một ban đảng khóa này nắm giữ chức thủ tướng khóa tới.
Tuy nhiên, với chức tổng bí thư, chức vụ tối thiểu trước khi nắm giữ vị trí này là thường trực Ban Bí thư.
Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an, đã nắm giữ chức vụ chủ tịch nước trong thời gian ba tháng, rồi từ đó mới được bầu làm tổng bí thư.
Trước đó, Thượng tướng Lê Khả Phiêu, Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị, giữ chức thường vụ Bộ Chính trị rồi mới trở thành người thay thế Tổng Bí thư Đỗ Mười vào năm 1997.
Quy trình tuyển lựa
Để chuẩn bị cho đại hội, Đảng sẽ thành lập các tiểu ban phụ trách về các vấn đề như nhân sự, văn kiện, tổ chức, trong đó Tiểu ban Nhân sự Đại hội đứng đầu là Tổng Bí thư.
Trong khi văn kiện được công khai, và lấy ý kiến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhân sự lãnh đạo thuộc danh mục tuyệt mật.
Nhìn vào tiêu chuẩn như kinh nghiệm công tác, phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận, độ tuổi, sức khỏe… có thể nhận thấy không ít người đáp ứng được các tiêu chuẩn đó.
Vì thế, Đảng sẽ thực hiện một số quy trình để thăm dò và giới thiệu ứng viên cho nhiệm kỳ tới.
Các ủy viên Trung ương sẽ được phát phiếu thăm dò, giới thiệu người mà họ cho là ứng viên lãnh đạo Đảng khóa tới.
Kết quả thăm dò này sẽ được Tiểu ban Nhân sự Đại hội tổng hợp, báo cáo với Bộ Chính trị.
Bộ Chính trị sẽ thảo luận, sau đó giới thiệu ứng viên, điều mà họ gọi là "có sự thống nhất cao" ra Ban Chấp hành.
Ban Chấp hành sẽ bỏ phiếu quyết định ai là ứng viên tổng bí thư nhiệm kỳ tới.
Các ủy viên Trung ương sẽ quyết định số lượng "trường hợp đặc biệt" và ai là trường hợp đặc biệt tái cử cho chức vụ nào trong nhiệm kỳ tới.
Hội nghị 15 diễn ra trong hai ngày 22 và 23/12/2025 cho thấy điều đó khi ông Tô Lâm nói rằng đã nhất trí thông qua "với sự tập trung cao" nhân sự lãnh đạo chủ chốt để trình Đại hội 14.
Danh sách này sẽ được đưa ra thảo luận tại Đại hội 14, và các đại biểu sẽ biểu quyết thông qua một danh sách các ứng viên cuối cùng trước khi bỏ phiếu bầu chọn.
Đại hội sẽ không trực tiếp bầu tổng bí thư mà chỉ bầu 200 ủy viên Ban Chấp hành, trong đó 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết.
Các ủy viên Trung ương mới được bầu sẽ bầu ra Bộ Chính trị, và bầu tổng bí thư, là nhân vật đã được Đảng chọn trước đó, đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn khắt khe.
Giới hạn độ tuổi và trường hợp đặc biệt
Trong lịch sử 95 năm, trải qua 13 kỳ đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có 13 tổng bí thư, trong đó người giữ chức lâu nhất là ông Lê Duẩn, với 25 năm, kế đến là ông Trường Chinh với khoảng 16 năm. Người thứ ba chính là ông Nguyễn Phú Trọng, hơn 13 năm tại thời điểm ông mất vào tháng 7/2024.
25 năm sau khi ông Lê Duẩn qua đời, Đảng có thêm 4 tổng bí thư, gồm các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh.
Ông Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư ở tuổi 71 trong khi người kế nhiệm ông, Đỗ Mười, trở thành tổng bí thư năm 74 tuổi.
Ông Mười đã phải rút lui khỏi chính trường ở tuổi 80 khi mới đắc cử nhiệm kỳ thứ hai được một năm rưỡi.
Cùng rút lui với ông Đỗ Mười là hai lãnh đạo chủ chốt khác: Chủ tịch nước Lê Đức Anh, 77 tuổi, và Thủ tướng Võ Văn Kiệt, 75 tuổi.
Ông Lê Khả Phiêu được bầu thay ông Đỗ Mười tại một hội nghị trung ương khóa 8 vào tháng 12/1997. Khi đó ông Phiêu 65 tuổi.
Cũng trong hội nghị này, nhà lý luận Nguyễn Phú Trọng, khi đó là phó bí thư Thành ủy Hà Nội, phụ trách Ban Tuyên giáo thủ đô, được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị.
Kể từ đó, Đảng đã giới hạn tuổi tái cử ủy viên Bộ Chính trị không quá 65, theo một quyết định của Bộ Chính trị, theo nhà báo Huy Đức, tác giả Bên thắng cuộc.
Ông Lê Khả Phiêu đã không tái cử tại Đại hội 9 vào tháng 4/2001 ở tuổi 70 dù giữ chức tổng bí thư chưa đầy một nhiệm kỳ. Người kế nhiệm khi đó là Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh.
Kể từ Đại hội lần thứ 9, chức vụ tổng bí thư đã được giới hạn không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp, một quy định được ghi trong Điều lệ Đảng.
Quy định này đã được ông Nông Đức Mạnh tuân thủ tại Đại hội 11.
Nhưng người kế nhiệm ông Nông Đức Mạnh đã phá vỡ không chỉ giới hạn về độ tuổi mà còn giới hạn nhiệm kỳ.
Ông Nguyễn Phú Trọng tái cử Bộ Chính trị vào tháng 1/2011 tại Đại hội 11, và được bầu làm tổng bí thư khi đã 66 tuổi, rồi tái đắc cử lần thứ hai vào năm 2016 khi 71 tuổi.
Ông Trọng cũng là người phá vỡ giới hạn nhiệm kỳ khi tại Đại hội 13 khi tái đắc cử lần thứ ba chức vụ này ở tuổi 76, điều mà giới lý luận của Đảng gọi là trường hợp "đặc biệt của đặc biệt".
Trong các đời tổng bí thư, nếu xét về tuổi tác, ông Nông Đức Mạnh là người trẻ nhất khi nhậm chức kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tái thống nhất hai miền nam bắc từ năm 1975.
Ông Tô Lâm, ở tuổi 66 trở thành tổng bí thư từ 3/8/2024, đến tháng 1/2026 khoảng gần 1 năm rưỡi tại vị.
Ông bước vào Đại hội 14 ở độ tuổi 68, và nếu không được tái cử, ông Tô Lâm sẽ trở thành tổng bí thư tại nhiệm ngắn nhất lịch sử kể từ 1975, thời điểm đánh dấu Đảng Cộng sản cầm quyền trên khắp Việt Nam.
Xác suất này dường như ít xảy ra, thể hiện qua bài phát biểu bế mạc Hội nghị 15 vào tháng 12 năm ngoái, khi ông "thay mặt" những người "được tín nhiệm tái cử".
Không những thế, ông còn được cho là sẽ nhất thể hóa hai vị trí tổng bí thư và chủ tịch nước, theo như cách mà các quốc gia cộng sản khác đã thực hiện, từ Trung Quốc, Triều Tiên, Lào đến Cuba.
Một mặt, Đảng giới hạn về tuổi tác, mặt khác, Đảng cũng đặt ra những ngoại lệ, gọi là "trường hợp đặc biệt", cho thấy một xu hướng: một số lãnh đạo Đảng tiếp tục ở lại dù đã quá tuổi để giữ các chức vụ quan trọng nhất, thậm chí phá vỡ cả giới hạn nhiệm kỳ.
Với hàng loạt ngổn ngang của những cải cách, việc tiếp tục giữ chức vụ cao nhất của Đảng trong thời gian tới dường như nhằm bảo đảm cho các thay đổi đó tiếp tục được duy trì.
Đó cũng là cách vận hành quyền lực mà ông Nguyễn Phú Trọng đã thực hiện trong các nhiệm kỳ của mình nhằm giữ chức tổng bí thư với mục đích giữ lửa cho chiến dịch "Đốt lò".
Quyền lực tổng bí thư
Tổng bí thư chính là người đứng đầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chấp hành Trung ương – vốn là các cơ quan siêu quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam.
Không chỉ là nhà lãnh đạo của hơn 5,6 triệu đảng viên ở Việt Nam, tổng bí thư còn là người đứng đầu hệ thống chính trị, nơi quyền lực của Đảng gắn liền với quyền lực Nhà nước – vốn được hiến định: lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Tổng bí thư cũng là bí thư quân ủy trung ương, chức vụ quan trọng nhất trong lực lượng quân đội, và dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng, tham gia trong Đảng ủy Công an Trung ương.
Tổng bí thư, kể từ năm 2013, cũng là trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, vốn là cơ quan đóng vai trò tích cực trong chiến dịch "Đốt lò" dưới thời kỳ ông Nguyễn Phú Trọng, và hiện là ông Tô Lâm.
Sự quan trọng của chức vụ này khiến cho quá trình tuyển chọn nhà lãnh đạo Đảng hết sức gắt gao.
Tiêu chuẩn và thực tế
Vì tính chất quan trọng của chức danh này, vấn đề chọn người làm tổng bí thư luôn tạo được sự chú ý.
Đã có thời dư luận râm ran tiêu chuẩn: tổng bí thư phải là người miền Bắc có lý luận – một điều mà Đảng phủ nhận.
Thay vào đó, tiêu chuẩn của tổng bí thư là người có "tư duy lý luận chính trị sắc sảo" – thay cho lý luận cao cấp – tiêu biểu về đạo đức và trí tuệ của toàn đảng.
Đó cũng là tiêu chuẩn cần phải có của các lãnh đạo chủ chốt và cấp cao khác.
Cho đến nay, chức danh này đã có đầy đủ người của các phái, từ quân đội với ông Lê Khả Phiêu, công an với ông Tô Lâm, từ nhà lý luận đến người dân tộc thiểu số.
Chỉ duy nhất chưa có tổng bí thư nữ nào.
Cũng chưa từng có người miền Nam nào ngồi vào chiếc ghế quyền lực này.
Vị tổng bí thư có quê gần miền Nam nhất là ở Quảng Trị, và cũng đã từ rất lâu, chính là ông Lê Duẩn, mất vào năm 1986.
Kể từ đó, chức vụ tổng bí thư đều do người miền Bắc nắm giữ, trong đó Hưng Yên có hai người, gồm ông Nguyễn Văn Linh (giai đoạn 1986-1991) và ông Tô Lâm hiện tại.
Bầu tổng bí thư
1.586 đại biểu dự Đại hội 14 không trực tiếp bầu tổng bí thư, thay vào đó họ bầu ra Ban Chấp hành Trung ương, gồm 180 ủy viên chính thức vào 20 ủy viên dự khuyết.
Các ủy viên này sẽ nhóm họp ngay sau khi có danh sách trúng cử, gọi là hội nghị thứ nhất, để bầu ra các ủy viên Bộ Chính trị và sau đó là bầu tổng bí thư từ một trong số các ủy viên Bộ Chính trị đó.
Trong khi danh sách bầu Ban Chấp hành có có một lượng số dư, có thể lên đến 20%, danh sách để Ban Chấp hành bầu tổng bí thư chỉ luôn có một người – chưa lần nào xuất hiện hai ứng viên – dù quy chế bầu cử trong Đảng ghi "nếu bầu từ 1 đến 6 người, số dư tối đa là 1".
Trong ba kỳ đại hội gần đây, gồm đại hội 11, 12 và 13, các ứng viên tổng bí thư đều là một người duy nhất: ông Nguyễn Phú Trọng.
Hai kỳ đại hội trước đó nữa, đại hội 9 và 10, cũng ứng viên duy nhất là ông Nông Đức Mạnh. Trước đó nữa là các ông Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh.
Ông Đỗ Mười từng một lần gặp thách thức trong bầu cử khi có một ứng viên thứ hai, nhưng không phải cho chức vụ tổng bí thư mà là chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng – tức thủ tướng.
Đó là lúc ông Phạm Hùng đột ngột qua đời vào tháng 3/1988 và ông Võ Văn Kiệt khi đó là phó chủ tịch thường trực lên làm quyền chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Trung ương Đảng đã giới thiệu ông Đỗ Mười, khi đó cũng là phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, để Quốc hội bầu.
Nhưng nhiều đại biểu quốc hội lại ủng hộ ứng viên Võ Văn Kiệt.
Dù ông Võ Văn Kiệt từ chối, nhưng các đại biểu Quốc hội không đồng ý.
Và đầu tiên, cũng là lần duy nhất, Quốc hội bỏ phiếu bầu chọn thủ tướng từ hai ứng viên.
Kết quả là ông Đỗ Mười trúng cử với tỷ lệ 63% và ông Kiệt được 37%.
Đó cũng là lần duy nhất Đảng đưa ra "số dư" để bầu chức vụ lãnh đạo chủ chốt và lãnh đạo cấp cao của hệ thống Đảng và chính quyền Việt Nam.
Những nhiệm kỳ đặc biệt
Lịch sử Đảng cũng từng chứng kiến những lần Ban Chấp hành bầu tổng bí thư không phải ở hội nghị thứ nhất và tân tổng bí thư không phải ra mắt tại đại hội.
Kể từ khi giành chính quyền vào năm 1945, ông Trường Chinh là tổng bí thư. Nhưng cuộc cải cách ruộng đất sai lầm đã khiến Trường Chinh phải từ chức. Người thay thế là ông Hồ Chí Minh, chủ tịch nước và chủ tịch Đảng.
Khi tổng bí thư phải từ chức hay đột ngột mất, nhân vật thay thế, kế nhiệm thường là chủ tịch nước.
Điều này được nhìn thấy vào năm 1986 khi ông Lê Duẩn qua đời, chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh được bầu làm tổng bí thư thay thế.
Đến năm 2024, ông Nguyễn Phú Trọng mất, ông Tô Lâm, khi đó đang là chủ tịch nước, cũng là người kế nhiệm.
Tuy nhiên, có một trường hợp ngoại lệ: khi tổng bí thư từ chức, người kế nhiệm là một thường trực Ban Bí thư.
Sự kiện này xảy ra khi trong một hội nghị trung ương, cả ba nhân vật quyền lực nhất là Tổng Bí thư Đỗ Mười, Chủ tịch nước Lê Đức Anh và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đồng loạt từ chức, về hưu.
Đó là sự kiện tháng 12/1997, ông Lê Khả Phiêu, một tướng quân đội, người chỉ mới được bầu vào Bộ Chính trị vào tháng 1/1994, đang giữ chức thường trực Ban Bí thư, được bầu vào chức vụ lãnh đạo cao nhất của Đảng.
Lần gần nhất là trường hợp ông Tô Lâm được bầu làm tổng bí thư vào ngày 3/8/2024 tại một hội nghị bất thường thay ông Nguyễn Phú Trọng, người qua đời trước đó hơn 10 ngày.