Ông Trump có thể đẩy thế giới quay lại thời đại đế quốc

Nguồn hình ảnh, Getty Images
- Tác giả, Jeremy Bowen
- Vai trò, Biên tập viên quốc tế
- Thời gian đọc: 9 phút
Chỉ vài giờ sau khi Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro bị lực lượng đặc nhiệm Mỹ bắt giữ – mất chức và mất cả đất nước – ông Donald Trump vẫn say sưa khi kể lại cảm giác theo dõi trực tiếp cuộc đột kích qua màn hình từ khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago của ông.
Ông chia sẻ cảm xúc đó với Fox News.
"Nếu bạn có thể thấy tốc độ, bạo lực – họ gọi như vậy… Thật đáng kinh ngạc, công việc đáng kinh ngạc của những con người này. Không ai khác có thể làm được điều như thế."
Tổng thống Mỹ muốn và cần những chiến thắng nhanh. Trước khi nhậm chức nhiệm kỳ hai, ông từng khoe việc chấm dứt chiến tranh Nga–Ukraine chỉ là chuyện của một ngày.
Venezuela, như cách ông Trump mô tả trong các tuyên bố, chính là chiến thắng nhanh gọn, dứt khoát mà ông hằng khao khát.
Ông Maduro hiện đang bị giữ trong một phòng giam tại Brooklyn; Mỹ sẽ "điều hành" Venezuela – và ông Trump tuyên bố rằng chế độ Chavista, nay với một tổng thống mới, sẽ bàn giao hơn một triệu thùng dầu mỏ, còn ông sẽ kiểm soát cách thức sử dụng lợi nhuận.
Tất cả, cho đến lúc này, đều chưa khiến người Mỹ nào mất mạng và cũng không cần đến một cuộc chiếm đóng lâu dài – điều từng gây ra những hậu quả thảm khốc sau cuộc xâm lược Iraq năm 2003.
Ít nhất là vào lúc này, ông Trump và các cố vấn – ít nhất là trước công chúng – đang phớt lờ những phức tạp của Venezuela.
Venezuela có diện tích lớn hơn Đức, vẫn chịu sự chi phối của một hệ thống phe phái cài cắm tham nhũng và đàn áp vào đời sống chính trị.
Thay vào đó, ông Trump đang tận hưởng một cơn hưng phấn địa chính trị. Dựa trên những tuyên bố đưa ra khi đứng cạnh tổng thống ở Mar-a-Lago, cả Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio và Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth dường như cũng chung tâm trạng.
Kể từ đó, họ liên tục nhấn mạnh rằng ông Trump là vị tổng thống "nói là làm".
Ông đã khiến Colombia, Mexico, Cuba, Greenland – và cả Đan Mạch – phải lo lắng về mục tiêu tiếp theo trong cơn thèm khát của tổng thống Mỹ.
Ông Trump rất thích đặt biệt danh. Ông vẫn gọi người tiền nhiệm là "Sleepy Joe" Biden (Joe Biden ngái ngủ).
Giờ đây, ông đang thử nghiệm một cái tên mới cho Học thuyết Monroe – nền tảng của chính sách Mỹ tại Mỹ Latinh suốt hai thế kỷ qua.
Đương nhiên, ông Trump đổi học thuyết này theo tên mình - Học thuyết Donroe.
Ông James Monroe, tổng thống thứ năm của Mỹ, công bố học thuyết nguyên bản vào tháng 12/1823. Học thuyết này tuyên bố Tây Bán Cầu là phạm vi lợi ích của Mỹ, đồng thời cảnh báo các cường quốc châu Âu không được can thiệp hay lập thuộc địa mới.
Học thuyết Donroe đưa thông điệp 200 năm tuổi của ông Monroe lên mức độ mạnh hơn rất nhiều.
"Học thuyết Monroe là một chủ đề lớn, nhưng chúng tôi đã vượt qua rất xa," ông Trump nói tại Mar-a-Lago, trong lúc ông Maduro – bị bịt mắt và còng tay – đang trên đường tới nhà giam.
"Theo chiến lược an ninh quốc gia mới của chúng tôi, sự thống trị của Mỹ ở Tây Bán Cầu sẽ không bao giờ còn bị nghi ngờ nữa."

Nguồn hình ảnh, Reuters
Bất kỳ đối thủ hay mối đe dọa tiềm tàng nào, đặc biệt là Trung Quốc, đều phải đứng ngoài Mỹ Latinh.
Chưa rõ điều đó sẽ ảnh hưởng ra sao tới những khoản đầu tư khổng lồ mà Trung Quốc đã rót vào khu vực này.
Học thuyết Donroe còn mở rộng đến Greenland – nơi Mỹ tự coi là "sân sau" ở phía bắc của mình.
Phiên bản năm 2026 của nét chữ đồng bản của ông Monroe là một bức ảnh ông Trump với vẻ mặt cau có, u ám, do Bộ Ngoại giao Mỹ đăng trên mạng xã hội. Dòng chữ đi kèm viết: "Đây là bán cầu CỦA CHÚNG TA – và Tổng thống Trump sẽ không cho phép an ninh của chúng ta bị đe dọa."
Điều này đồng nghĩa với việc sử dụng sức mạnh quân sự và kinh tế của Mỹ để cưỡng ép các quốc gia và lãnh đạo "lệch chuẩn" – và chiếm lấy tài nguyên của họ nếu cần thiết.
Như ông Trump từng cảnh báo về một mục tiêu tiềm năng khác – tổng thống Colombia cần phải coi chừng.
Greenland lọt vào tầm ngắm của Mỹ không chỉ vì vị trí chiến lược ở Vùng Bắc Cực, mà còn do nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú đang trở nên dễ tiếp cận hơn khi biến đổi khí hậu gây ra hiện tượng băng tan.
Đất hiếm từ Greenland và dầu thô nặng từ Venezuela đều được coi là tài sản chiến lược đối với Mỹ.
Không giống cách các tổng thống Mỹ trước đây can thiệp ở nước ngoài, ông Trump không che đậy hành động của mình bằng tính chính danh – dù có thể là giả tạo – của luật pháp quốc tế hay việc theo đuổi dân chủ.
Sự chính danh duy nhất ông cần là niềm tin vào sức mạnh ý chí của bản thân – được hậu thuẫn bằng quyền lực trực diện của Mỹ.
Từ Monroe đến Donroe, các học thuyết đối ngoại luôn có ý nghĩa đối với các tổng thống Mỹ. Các học thuyết này định hình hành động và di sản của họ.
Tháng 7 tới, Mỹ sẽ kỷ niệm 250 năm lập quốc. Năm 1796, vị tổng thống đầu tiên, George Washington, tuyên bố không tìm kiếm nhiệm kỳ thứ ba bằng một bài diễn văn từ biệt mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Washington đưa ra hàng loạt lời cảnh báo về mối quan hệ giữa Mỹ và thế giới.
Liên minh tạm thời trong thời chiến có thể cần thiết, nhưng ngoài ra, Mỹ nên tránh các liên minh lâu dài với nước ngoài. Đó là điều mở đầu cho truyền thống chủ nghĩa biệt lập.
Ở trong nước, ông cảnh báo người dân phải cảnh giác với chủ nghĩa đảng phái cực đoan. Theo ông Washington, sự chia rẽ là mối nguy đối với nền cộng hòa non trẻ.
Thượng viện Mỹ hàng năm vẫn công khai đọc lại bài diễn văn từ biệt của ông Washington – một nghi thức hầu như không xuyên thủng được nền chính trị siêu đảng phái và phân cực sâu sắc hiện tại.
Lời cảnh báo của ông Washington về những nguy hiểm từ các liên minh ràng buộc đã được tuân thủ trong suốt 150 năm. Sau Thế chiến I, Mỹ rút khỏi châu Âu và quay lại chủ nghĩa biệt lập.
Nhưng Thế chiến II đã biến Mỹ thành một cường quốc toàn cầu. Và tại đây, một học thuyết khác xuất hiện – có ý nghĩa lớn hơn nhiều đối với cách châu Âu tồn tại cho tới khi ông Trump xuất hiện.
Đến năm 1947, Chiến tranh Lạnh với Liên Xô trở nên thực sự gay gắt. Vương quốc Anh, kiệt quệ vì chiến tranh, thông báo với Mỹ rằng họ không còn đủ khả năng tài trợ cho chính phủ Hy Lạp trong cuộc chiến chống lại phe cộng sản.
Phản ứng của Harry Truman, tổng thống khi đó, là cam kết Mỹ sẽ ủng hộ "các dân tộc tự do đang chống lại sự khuất phục từ các nhóm vũ trang thiểu số hoặc áp lực từ bên ngoài" – ám chỉ các mối đe dọa từ Liên Xô hoặc lực lượng cộng sản trong nước.
Đó là Học thuyết Truman, chính sách đã mở đường cho Kế hoạch Marshall tái thiết châu Âu, và sau đó là việc thành lập NATO năm 1949.
Những người theo chủ nghĩa Đại Tây Dương ở Mỹ, như ông Harry Truman và ông George Kennan – nhà ngoại giao đưa ra khái niệm kiềm chế Liên Xô – tin rằng những cam kết đó phục vụ lợi ích của nước Mỹ.
Có một mối dây trực tiếp liên kết Học thuyết Truman với việc ông Joe Biden quyết định tài trợ cho nỗ lực chiến tranh của Ukraine.
Xét trên nhiều phương diện, Học thuyết Truman đã tạo ra mối quan hệ với châu Âu mà ông Trump đang tháo dỡ. Đó là một sự đoạn tuyệt rõ ràng với quá khứ. Ông Truman đã phớt lờ cảnh báo của Washington về các liên minh vĩnh viễn.
Giờ đây, ông Trump lại đang phá vỡ di sản của ông Truman. Nếu thực hiện lời đe dọa bằng cách nào đó sẽ chiếm quyền sở hữu Greenland – lãnh thổ có chủ quyền của Đan Mạch – ông Trump có thể phá hủy những gì còn sót lại của liên minh xuyên Đại Tây Dương.
Ông Stephen Miller, nhà tư tưởng MAGA và cố vấn quyền lực của ông Trump, đã tóm lược điều này đầu tuần trên CNN.
Theo ông, Mỹ đang vận hành trong một thế giới thực "do sức mạnh, vũ lực, quyền lực chi phối… đó là những quy luật bất biến của thế giới từ thuở ban đầu".
Không tổng thống Mỹ nào phủ nhận nhu cầu về sức mạnh và quyền lực. Nhưng từ ông Franklin D. Roosevelt, đến ông Truman và tất cả những người kế nhiệm cho tới trước ông Trump, các chủ nhân Nhà Trắng đều tin rằng cách tốt nhất để trở nên hùng mạnh là dẫn dắt một liên minh – điều đòi hỏi cả cho và nhận.
Họ ủng hộ Liên Hợp Quốc non trẻ và nỗ lực xây dựng các quy tắc để điều chỉnh hành vi của các quốc gia. Dĩ nhiên, Mỹ đã nhiều lần phớt lờ và vi phạm luật pháp quốc tế, góp phần làm xói mòn ý tưởng về một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.
Nhưng những người tiền nhiệm của ông Trump không tìm cách dẹp bỏ khái niệm hệ thống quốc tế cần được điều tiết, dù còn nhiều khiếm khuyết và chưa hoàn thiện.
Nguyên nhân là hậu quả thảm khốc trong nửa đầu thế kỷ 20 của "quy luật kẻ mạnh" – hai cuộc thế chiến với hàng triệu người chết.
Tuy nhiên, sự kết hợp giữa hệ tư tưởng "Nước Mỹ trên hết" của ông Trump và bản năng kinh doanh mang tính chiếm hữu, thiên về giao dịch đã khiến ông tin rằng các đồng minh của Mỹ phải trả phí cho sự ưu ái của ông.
"Tình bạn" có lẽ là một từ quá mạnh. Lợi ích của Mỹ, theo định nghĩa hẹp mà tổng thống đưa ra, đòi hỏi nước này phải giữ vị thế số một bằng cách hành động đơn độc.
Ông Trump thay đổi ý kiến khá thường xuyên. Nhưng một điều dường như không đổi là niềm tin rằng Mỹ có thể sử dụng quyền lực của mình mà không phải chịu hậu quả. Ông cho rằng đó là con đường để "làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại".
Rủi ro là nếu ông Trump kiên định với con đường đó, ông sẽ đẩy thế giới quay trở lại thời đại đế quốc cách đây một thế kỷ hoặc hơn – một thế giới nơi các cường quốc, với những vòng ảnh hưởng, tìm cách áp đặt ý chí của mình, nơi những nhà dân tộc chủ nghĩa độc đoán hùng mạnh dẫn dắt dân tộc họ tới thảm họa.


















